Nam Định trong kháng chiến chống Minh trước khởi nghĩa Lam Sơn (1407-1417)


 

 

            Mùa xuân năm 1407, đại quan của Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng đã lui về cửa Muộn Hải (cửa sông Hồng thuộc đất Giao Thủy thời đó, nay vào khoảng tiếp giáp giữa Xuân Trường và Giao Thủy).

 

 

Địa bàn Nam Định trong thập kỷ đầu của thế kỷ XV đã chứng kiến những cuộc chiến đấu chống Minh bi hùng của quân đội triều Hồ.

Mùa xuân năm 1407, đại quan của Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng đã lui về cửa Muộn Hải (cửa sông Hồng thuộc đất Giao Thủy thời đó, nay vào khoảng tiếp giáp giữa Xuân Trường và Giao Thủy). Tại đây quan quân nhà Hồ “hợp sức đắp lũy, đúc hỏa khí, đóng thuyền chiến để chống giặc. Quyên tiền mộ của, ai đóng góp thì bản thân được ban tước, nếu là con trai thì được lấy con gái tôn thất và được ban cấp 10 mẫu đất”. Một cánh quân nhà Hồ do viên tướng chỉ huy Thần Đinh là Ngô Thành đã nhân con nước triều lên đã tập kích vào Giao Thủy, nhưng Trương  Phụ và Mộc Thành đã chia quân ra hai bên bờ sông chặn đánh. Ngô Thành thế cô bị hãm trận, hy sinh

Ngay sau thất bại này của quân nhà Hồ, quân Minh đã bắt tay vào việc thi hành chính sách cai trị, bình định của chúng. Cùng với cả nước, đất Nam Định trong suốt thời kỳ quân Minh đô hộ chưa khi nào nguôi tắt ngọn lửa đấu tranh dưới hình thức của nhân dân chống quân xâm lược, đông đảo nhân dân vùng Nam Định đã đặt nợ nước lên trên, nhìn rõ bản chất xâm lược của kẻ thù, đứng lên chống lại chiêu bài lừa bịp đó bằng khởi nghĩa vũ trang dũng cảm, sinh tử với giặc Minh.

Ngay trong những ngày đầu tiên, người Nam Định đã tiến hành khởi nghĩa chống giặc Minh mà tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Trần Ngỗi. Về giai đoạn của cuộc khởi nghĩa này, Toàn thư chỉ chép vẻn vẹn như sau: ”Mùa đông, tháng 10, Giản Định Đế lên ngôi ở Mô Độ, châu Trường Yên, dựng niên hiệu là Hưng Khánh. Trước đó, Trương Phụ yết bảng bắt các tôn thất họ Trần và đầu mục quan lại cũ để đưa về. Vua trốn chạy đến Mô Độ. Người Thiên Trường là Trần Triệu Cơ đem quân đến lập lên ngôi”. Tác giả cuốn Khởi nghĩa Lam Sơn viết rõ hơn “Một người yêu nước ở Thiên Trường (Nam Định cũ) là Trần Thiệu Cơ lúc bấy giờ đang chuẩn bị khởi nghĩa liền đem quân đến đón Trần Ngỗi lập lên làm minh chủ”

Tiếc là cho đến nay không có thêm tư liệu gì mới hơn về Trần Thiệu Cơ. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, hành động Trần Thiệu Cơ đem quân bản bộ của mình đến và tôn Trần Ngỗi lên làm ngọn cờ của cuộc khởi nghĩa đã phản ánh tâm lý xã hội lúc đó của bộ phận dân cư luyến nhớ nhà Trần, mượn danh nhà Trần để tập hợp lực lượng. Sau này, trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Lợi – người hoàn toàn không dính dáng về dòng họ và quyền lợi nhà Trần, nhưng thấy lòng người vẫn nhớ nhà Trần đã cho dựng lên Trần Cảo “để theo nguyện vọng mọi người cần nhìn nhận đó như một nghệ thuật đấu tranh khiến cho nghĩa quân vừa tranh thủ được một bộ phận nhân dân và tiện bề lợi dụng chiêu bài mà chính quân Minh đang sử dụng

Như vậy tại bến Bô Cô – bên bờ sông Đáy của Nam Định, Ninh Bình đã ghi một chiến công lừng lẫy, có hiệu quả tiêu diệt sinh lực địch lớn nhất của nghĩa quân từ khi quân Minh xâm lược nước ta đến năm 1408.

Trong cuộc kháng chiến sau đó do Trần Quý Khoáng đứng đầu, vùng bên sông Mờm thuộc xã Ngọc Chấn (nay thuộc xã Yên Trị, huyện Ý Yên) là địa điểm đóng quân của Đặng Dung. Sau này, đền thờ ông ở đây còn có bài thơ khắc trên gỗ sơn son thếp vàng, tương truyền do Đặng Dung cảm tác:

Tinh kỳ nghiêm lập thủy lưu trường

Thân ỷ thuyền lan vọng cố hương

Dân tán quốc nguy thùy nhiệm trọng

Binh cơ lợi độn vị năng lường

(Cờ binh nghiêm chỉnh bên dòng nước chảy dài

Thân tựa vào thuyền ngóng về quê hương

Dân tan tác, nước nguy khốn ai là người đảm trách

Việc binh thắng bại chưa có khả năng tính toán được)


Comments