Nam Định trong sự nghiệp xây dựng nước Đại Việt thời Lê sơ (1428-1527)


 

            Vùng đất nam sông Hồng – trong đó địa bàn chủ yếu là Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình ngày nay, từ nửa cuối thế kỷ XV, được triều đình nhà Lê quan tâm đặc biệt.

 

Nhà nước đã có nhiều chính sách và hoạt động về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa ở vùng này hơn so với các khu vực khác của châu thổ sông Hồng cùng thời.

Nằm trên trục đường giao thông thủy, bộ nối liền bắc nam, Nam Định trong thế kỷ XV có ý nghĩa đặc biết với triều Lê. Chiêm Thành, Chân Lạp ở phương Nam luôn là mối lo thường xuyên về an ninh quốc gia nơi miền biên ải, đồng thời lại là vùng đất rộng người thưa kích thích khát vọng mở mang lãnh thổ của chính quyền Đại Việt. Phương nam với nhà Lê còn có Lam Sơn – Lam Kinh – quê cha đất tổ, đất phát tích của vương triều…Vì thế các vua Lê nhất là vua Lê Thánh Tông, thường xuyên qua lại vùng Thiên Trường, Trường Yên.

Năm 1466, triều Lê thay đổi, xếp đặt lại quân ở năm phủ và định quân hiệu, bốn trong năm phủ quân quản các địa phương kề cận với nhau về mặt địa lý, riêng phủ Nam quân lại là hai khu vực Thiên Trường và Thuận Hóa cách xa nhau hàng ngàn dặm. Trong thời Lê Thánh Tông, vị trí vùng đất Thiên Trường càng trở nên đặc biệt quan trọng với các hoạt động quân sự ở vùng đất Chiêm Thành cũng như việc phòng vệ phía nam cho vùng trung châu Bắc Bộ, cho kinh thành Đông Kinh.

Nhà nước thời Lê sơ rất quan tâm đến việc nông tang nói chung, công cuộc khai hoang mở rộng diện tích canh tác nói riêng bằng hàng loạt chính sách, nhất là dưới thời Hồng Đức. Cùng với hoạt động khẩn hoang tự nguyện của những người nông dân, chính quyền trung ương nhà Lê cũng đặc biệt chú trọng đến việc tổ chức khẩn hoang dưới hình thức đồn điền ở phía Nam khu vực sông Hồng, trong đó có Nam Định. Khó có thể thống kê, khảo sát, xác định được đầy đủ những đồn điền thời Lê sơ đã từng có ở Nam Định. Ngoài lý do thời gian đã quá lâu, còn có nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác. Cư dân đầu tiên của các đồn điền này trước hết và chủ yếu là các binh lính, tù binh, tội nhân. Họ ít và khó có điều kiện ghi chép để truyền lại cho đời sau về lịch sử khai hoang lập làng. Tuy nhiên căn cứ vào các nguồn tài liệu chính thống của nhà nước phong kiến như chính sử, điền bạ…có thể thấy vùng Nam Định tập trung khá nhiều đồn điền như:

Sở Vĩnh Hưng (thuộc vùng của tổng Cổ Nông, Trực Ninh)

Sở Đông Hải (nơi có các thôn Đắc Sở, Thượng Đồng, Hạ Đồng thuộc Trực Ninh)

Sở Hoa Diệp (thuộc vùng Phượng Để, Cổ Lễ, Trực Ninh)

Sở Vọng Doanh (nằm trong vùng các xã Yên Quang, Yên Bằng, Yên Khang thuộc Ý Yên)

Sự trù mật của các đồn điền ở ven cửa biển vùng Giao Thủy, bên đê sông Hồng, sông Đáy tự đã làm nổi bật lên vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng của vùng đất phủ Thiên Trường với nhà nước thời Lê sơ, với quốc gia Đại Việt nửa sau thế kỷ XV. Nửa sau thế kỷ XV, trên vùng ven biển Nam Định chứng kiến một công trình kết tinh thành quả lao động to lớn của nhân dân Đại Việt. Đó là việc khởi công và hoàn thành đê Hồng Đức, một con đê ngăn nước mặn có quy mô lớn đầu tiên của vùng châu thổ. Với sự đầu tư, quan tâm của trung ương và địa phương như vậy, công cuộc đắp đê ở vùng biển Nam Định, Ninh Bình thời Lê sơ đã được tiến hành với tốc độ nhanh quy mô lớn. Trên địa bàn Nam Định qua những dấu tích còn lại thì thấy đê Hồng Đức kéo dài từ cửa Đại An, qua phần bắc Nghĩa Hưng, rồi Hải Hậu về đến Hội Khê. Nhiều đoạn gần trùng với con đường 56 hiện nay.

Cùng với sự phát triển nho học của cả nước, giáo dục nho học ở Nam Định thế kỷ XV có bước phát triển mới. Ngay sau khi kết thúc chiến tranh, vào năm 1428, nhà Lê đã cho mở các trường học ở phủ, lộ. Điều đáng chú ý là trong thời Lê sơ, sự phát triển của nho học ở Nam Định không chỉ diễn ra trên các vùng đất cổ như Ý Yên, Vụ Bản hay tại vùng xung quanh ấp thang mộc của nhà Trần như Lộc Vượng, mà còn ở cả địa bàn ven biển, nơi các làng mạc mới được hình thành. Trong vòng 100 năm của thời Lê sơ, Nam Định có đến 22 tiến sĩ, đại bộ phận số đại khoa này đều đỗ vào nửa sau thế kỷ XV, cho nên có thể nói Nho học ở Nam Định đã thực sự có bước phát triển mới từ sau sự kiện Lương Thế Vinh đỗ trạng nguyên (1463). Ngoài con số các trạng nguyên tiến sĩ kể trên, biểu hiện quan trọng của thành tựu giáo dục nho học vùng Nam Định, điều đáng nói ở chỗ không ít vị đại khoa đã trở thành những nhân vật tiêu biểu cho trí tuệ, tài năng Đại Việt thế kỷ XV nói riêng, lịch sử dân tộc nói chung./.


Comments